-‘๑’- Diễn Đàn 33K13 - ĐNO -‘๑’-

Chào Bạn ! Diễn đàn khoa Luật 33K13 - ĐNO - Đại Học Kinh Tế - Đà Nẵng rất vui khi các Bạn ghé thăm diễn đàn chúng tôi. Chúc Bạn 1 ngày tốt lành ! Bạn có thể Click " Do not display again " để tắt khung cửa sổ này.

-‘๑’- Diễn Đàn 33K13 - ĐNO -‘๑’-

( ^_>^ ) & ( ^_^ ) Www.33K13.Tk ( ^o^ ) & ( ^<_^ )
 
IndexGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
-‘๑’- :: (¯`'•.¸(¯`'•.¸† Không hiểu do vô tình hay hữu tình, vào ngày 20/10/2010, Diễn đàn Luật Học Www.33K13.Tk của lớp Luật 33K13 - Đại Học Kinh Tế - Đà Nẵng được khai sinh, lấy cảm hứng từ bài viết: " Ứng dụng phương pháp giảng dạy tình huống trong đào tạo Luật " của Thạc sỹ: Vũ Thị Thúy - Giảng viên khoa Luật Hình Sự - Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cùng theo đó là của các chuyên mục trên Diễn đàn triễn khai, với một mục đích làm sao cho việc học Luật, tìm hiểu Pháp Luật, không phải là cái gì quá khó hiểu, cũng không còn những điều Luật khô khan cứng nhắc. " Nhìn pháp luật qua lăng kính cuộc sống ". †¸.•'´¯)¸.•'´¯) :: -‘๑’- -‘๑’- :: (¯`'•.¸(¯`'•.¸† Cũng kể từ đó đến nay, Diễn đàn cũng trải qua nhiều khó khăn, thử thách, ban đầu rất ít truy cập, cuối cùng thì mọi chuyện cũng tốt đẹp, cũng tạo tiền đề cho Diễn đàn phát triễn nhanh hơn trước. †¸.•'´¯)¸.•'´¯) :: -‘๑’- -‘๑’- :: (¯`'•.¸(¯`'•.¸† Nhìn tổng thể thì Diễn đàn có nhiều điều chưa làm được, có nhiều chính sách hạn chế việc đăng ký thành viên, chúng tôi sẽ cố gắng để tạo một sân chơi có ích cho các Bạn có cùng mục đích tìm hiểu và nghiên cứu ngành luật. †¸.•'´¯)¸.•'´¯) :: -‘๑’- -‘๑’- :: (¯`'•.¸(¯`'•.¸† Vài dòng thông tin cho chương trình chào mừng 01 năm ngày sinh nhật Diễn đàn: 20/10/2010 -> 20/10/2011. †¸.•'´¯)¸.•'´¯) :: -‘๑’- -‘๑’- :: (¯`'•.¸(¯`'•.¸† Các Bạn có thể đóng góp ý kiến thêm để góp phần phát triễn Diễn đàn cho cộng đồng Luật Học 33K13 của chúng ta ngày càng phát triển hơn. †¸.•'´¯)¸.•'´¯) :: -‘๑’-
Share | 
 

 Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 1632
Points: 4711
Reputation: 2
Join date: 30/09/2010
Age: 3
Đến từ: Tuy Đức - Đăk Nông

Bài gửiTiêu đề: Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp   10/11/2010, 21:35

Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp

Tại sao Khoa học Luật Hiến pháp là môn khoa học pháp lý chuyên ngành?

Phân tích đối tượng nghiên cứu của Khoa học luật hiến pháp.

Phân tích đối tượng điều chỉnh của Ngành luật hiến pháp.

Nguồn của ngành luật hiến pháp.

Phân tích các đặc điểm của quy phạm pháp luật hiến pháp.

Phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật hiến pháp.

Phân tích các đặc điểm của Hiến pháp.

Tại sao Nhà nước chủ nô và phong kiến chưa có Hiến pháp?

Tại sao trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 ở Việt Nam chưa có Hiến pháp?

Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1946.

Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1959.

Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1980.

Trình bày hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của Hiến pháp 1992.

Phân tích nội dung quyền dân tộc cơ bản trong Điều 1 Hiến pháp 1992.

Phân tích ý nghĩa của việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội
trong Điều 4 Hiến pháp 1992.

Phân tích các hình thức thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị theo quy định của Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp).

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động lập pháp, lập quy.

Phân tích quy định: "Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" (Điều 15 Hiến pháp 1992 (sửa đổi).

Phân tích nội dung của chế độ sở hữu toàn dân?

Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tập thể?

Phân tích nội dung của chế độ sở hữu tư nhân?

Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế Nhà nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tập thể theo Hiến pháp hiện hành năm 1992?

Phân tích chính sách của Nhà nước đối với thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân theo Hiến pháp
hiện hành năm 1992?

So sánh sở hữu toàn dân với sở hữu tập thể.

Phân tích nguyên tắc: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. (Điều 26 Hiến pháp 1992)

Phân tích mục đích, chính sách phát triển nền giáo dục Việt Nam theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích mục đích, chính sách phát triển khoa học, công nghệ theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tôn trọng quyền con người (Điều 50 Hiến pháp 1992).

Phân tích nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc tính thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Phân tích nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân.

Phân tích nguyên tắc tính hiện thực trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Phân tích nguyên tắc tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Phân tích nội dung "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề
chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân." (Điều 53 Hiến pháp 1992)

Phân tích Điều 57 Hiến pháp 1992 " Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật."

Phân tích Điều 68 Hiến pháp 1992 "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước
ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật."

Phân tích quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin…" (Điều 69 Hiến pháp 1992)

Phân tích quy định: "… Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."(Điều 69 Hiến
pháp 1992)

Phân tích nội dung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân theo Hiến pháp 1992.

Phân tích nguyên tắc bầu cử phổ thông.

Phân tích nguyên tắc bầu cử trực tiếp.

Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng.

Phân tích nguyên tắc bỏ phiếu kín trong bầu cử.

Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền bầu cử của công dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích những điều kiện để thực hiện quyền ứng cử của công dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích những điều kiện để một công dân trúng cử đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích quy định về bãi nhiệm đại biểu theo pháp luật hiện hành.

Phân tích nguyên tắc: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy
nhà nước.

Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo Hiến pháp hiện hành
năm 1992.

Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết dân tộc trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo
Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân" (Điều 83 Hiến pháp 1992).

Phân tích quy định: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Điều 83 Hiến pháp 1992).

Phân tích chức năng lập hiến và lập pháp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước bằng những hình thức nào?

Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua kỳ họp của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Trình bày cơ cấu tổ chức của Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Quốc hội thông qua hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1946 về Chủ tịch nước.

Trình bày các quy định của Hiến pháp năm 1959 về Chủ tịch nước.

Vị trí, vai trò và trật tự hình thành Chủ tịch nước theo Hiến pháp hiện hành năm 1992.

Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc hội theo pháp luật hiện hành.

Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Chính phủ theo pháp luật hiện hành.

Phân tích mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.

Phân tích cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành của Chính phủ theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua phiên họp Chính phủ theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Chính phủ thông qua hoạt động của Thủ tướng theo pháp luật hiện hành.

Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Hội đồng nhân dân có phải là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa phương không? Tại sao?

Các hình thức thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Trình bày cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Hội đồng nhân dân thông qua kỳ họp Hội đồng nhân dân.

Trình bày tổ chức và hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Trình bày tổ chức và hoạt động của các ban thuộc Hội đồng nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Trình bày cơ cấu tổ chức và trật tự hình thành Uỷ ban nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua phiên họp Uỷ ban nhân dân.

Phân tích hình thức hoạt động của Uỷ ban nhân dân thông qua hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.

Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo pháp luật hiện hành.

Phân tích các mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan nhà nước cùng cấp ở địa phương theo pháp
luật hiện hành.

Phân tích nguyên tắc bổ nhiệm thẩm phán theo quy định pháp luật hiện hành.

Phân tích chức năng xét xử của Toà án.

Phân tích nguyên tắc: "Khi xét xử, Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 130 Hiến
pháp 1992)

Phân tích nguyên tắc: "Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định..." (Điều 131 Hiến pháp 1992).

Phân tích nguyên tắc: "Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số" (Điều 131 Hiến pháp 1992).

Phân tích nguyên tắc: Công dân có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.

Phân tích chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật hiện hành.

Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.

Trình bày tiêu chuẩn của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.

Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo pháp luật hiện hành.

Trình bày tiêu chuẩn của Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương theo pháp luật hiện hành.

Www.33K13.TK


Nguyễn Ngọc Hải Lâm
Y!: ChuyenTinh_O_Harvard2
Email: nguyenngochailam@gmail.com
¤ø„¸¨°º¤ø„¸ ¸„ø¤º°¨¸„ø¤º°¨
¨°º¤ø„¸I Love ♥¸„ø¤º°¨
¸„ø¤º°¨ ...You...♥``°º¤ø„¸
¸„ø¤º ``°º¤ø„¸ ¤ø„¸¨°º


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://33k13.4rumer.com
phamhoangnguyethuong



Tổng số bài gửi: 1
Points: 1
Reputation: 0
Join date: 25/06/2011

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp   25/6/2011, 16:49

Mình đang làm câu phân tích những nguyên tắc hiện thực của chế định và nghĩa vụ công dân Việt Nam theo Hiến pháp 1992.
ai biết không giúp mình với nha. thank
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 1632
Points: 4711
Reputation: 2
Join date: 30/09/2010
Age: 3
Đến từ: Tuy Đức - Đăk Nông

Bài gửiTiêu đề: TÌM HIỂU CHẾ ĐỊNH “QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN” TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM    28/6/2011, 16:14

TÌM HIỂU CHẾ ĐỊNH “QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN
CỦA CÔNG DÂN” TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM
ThS. Trần Tuấn Duy
(*)

Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, Nhà nước ta đã
ban hành 4 bản Hiếp pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và
Hiến pháp 1992 (được sửa đổi, bổ sung ngày 25/12/2001). Trong hệ thống pháp
luật thì Hiến pháp là văn bản có giá trị cao nhất, quy định những vấn đề cơ bản
nhất, quan trọng nhất của đất nước; trong đó có chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân.
Trong khi một số nước trên thế giới không đưa quy định quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân vào Hiến pháp thì tại Việt Nam, chế định này được đưa vào
tất cả các bản Hiến pháp. Cụ thể là: Chương II Hiến pháp 1946 với tên gọi “Nghĩa
vụ và quyền lợi công dân”, chương III Hiến pháp 1959 với tên gọi “Quyền lợi và
nghĩa vụ cơ bản của công dân” và tại chương V của Hiến pháp 1980, Hiến pháp
1992 với tên gọi “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Việc quy định quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện sự tôn trọng con
người, củng cố địa vị pháp lý của người làm chủ đất nước.
Nghiên cứu về chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản
Hiến pháp, chúng ta thấy được sự phát triển của chế định này. Sự phát triển biểu
hiện rõ nét nhất ở những nội dung sau:
1. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng
tăng về số lượng và phong phú nội dung:
Về số lượng: Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng được
quy định nhiều hơn trong các Hiến pháp: Hiến pháp 1946 (18 điều), Hiến pháp
1959 (21 điều), Hiến pháp 1980 (29 điều) và tại Hiến pháp 1992 (34 điều).
Về nội dung: Các Hiến pháp sau luôn có những quy định mới mà các Hiến
pháp trước không quy định. Ví dụ:
Hiến pháp 1959 có những quy định mới so với Hiến pháp 1946 như: Quyền
làm việc; quyền nghỉ ngơi; quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học,
nghệ thuật; quyền khiếu nại, tố cáo..v.v…

(*)
Giảng viên Khoa Nhà nước Pháp luật – Trường Cán bộ TP. Hồ Chí Minh
1 Hiến pháp 1980 có thêm các quy định: Quyền tham gia quản lý công việc
Nhà nước và xã hội; quyền được bảo hiểm xã hội; quyền được bảo vệ sức
khỏe..v.v..
Hiến pháp 1992 có những quy định mới: Quyền con người và quyền công
dân; quyền tự do kinh doanh; quyền bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi
danh dự; người nước ngoài cư trú tại Việt Nam được Nhà nước bảo hộ tính mạng,
tài sản và các quyền lợi chính đáng theo quy định của pháp luật..v.v..
Điều đáng nói ở đây là: Sự phát triển về số lượng và nội dung của chế định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua các bản Hiến pháp không phải là sự
ngẫu nhiên hay do kỹ thuật lập pháp mà điều này đã cho thấy địa vị pháp lý, địa vị
xã hội của công dân ngày càng được tăng lên một cách rõ rệt.
2. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước
Các quy định của pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước là để đảm bảo cho các quy định đó có tính khả thi. Tính khả thi giúp cho các
quy định của pháp luật không chỉ tồn tại trên lý thuyết mà chúng phải được thực
hiện trong thực tế cuộc sống, được người dân chấp nhận như một nhu cầu cần thiết
của cuộc sống.
Chính vì vậy, Hiến pháp 1992 đã có những sửa đổi quan trọng nhiều quy
định tại Hiến pháp 1980 cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội. Ví dụ:
- Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền có việc làm” thì Hiến pháp
1992 sửa thành: “Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm
cho người lao động”.
- Hiến pháp 1980 quy định: “Thực hiện chế độ học không phải trả tiền” thì
Hiến pháp 1992 quy định là: “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí, học
bổng”.
- Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền có nhà ở”, Hiến pháp 1992
sửa lại là: “Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật”.
- Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước thực hiện chế độ khám bệnh và chữa
bệnh không phải trả tiền” thì Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy định chế
độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí” …
Những thay đổi trên là để cho các quy định của pháp luật phù hợp hơn với
2 từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
và của nhân dân. Có vậy, những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mới ngày
càng được đảm bảo hơn.
3. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Hiến
pháp Việt Nam thể hiện mối quan hệ bình đẳng, hài hòa giữa công dân với
công dân và giữa Nhà nước với công dân
Trong tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam đều tuân thủ nguyên tắc: “Quyền
của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân”. Nguyên tắc này thể hiện ý
thức và trách nhiệm của công dân. Công dân hưởng các quyền đồng thời phải thực
hiện những bổn phận nhất định. Điều này giúp ích cho sự phát triển của cá nhân
mỗi công dân đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của người khác, của cộng
đồng xã hội. Bởi trong xã hội không thể có hai loại công dân: Một loại công dân
chuyên hưởng quyền, một loại công dân chuyên thực hiện nghĩa vụ. Vì thế, tất cả
các Hiến pháp Việt Nam đều quy định sự bình đẳng của công dân trước pháp luật:
- Hiến pháp 1946: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp
luật”.
- Hiến pháp 1959: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình
đẳng trước pháp luật”.
- Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992: “Mọi công dân đều có quyền bình
đẳng”.
“Bình đẳng trước pháp luật” là bình đẳng trong việc công dân được hưởng
các quyền và thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định. Sự bình đẳng này thể
hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và không phân biệt dân tộc, tôn giáo,
thành phần xã hội…
Sự bình đẳng còn biểu hiện trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân.
Trong các Hiến pháp đều ghi nhận quyền của công dân và nghĩa vụ của Nhà nước
và ngược lại. Vì thế, trong các bản Hiến pháp, bên cạnh việc xác lập ngày càng đầy
đủ các quyền của công dân thì Nhà nước cũng xác lập một cách cụ thể, chi tiết và
cân đối các nghĩa vụ của công dân. Ngoài ra, các Hiến pháp cũng ghi nhận rõ ràng
trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân. Điều 8 Hiến pháp 1992 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên
chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt
chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” và điều 51
3 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân
phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội”. Quy định này giúp
cho mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân thật sự hài hòa. Lợi ích của công dân
phải gắn với lợi ích của Nhà nước và ngược lại. Trong các quy định tại Hiến pháp
cũng như trên thực tế mối quan hệ hài hòa và bình đẳng này ngày càng được củng
cố và tăng cường.
4. Qua các bản Hiến pháp, các quyền tự do dân chủ của công dân ngày
càng được mở rộng
Điều này thể hiện rõ trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Các Hiến pháp sau luôn có những quy định mở rộng quyền tự do dân chủ. Chẳng
hạn như:
- Hiến pháp 1980 quy định về quyền sở hữu của công dân chỉ với “những
công cụ sản xuất dùng trong trường hợp được phép lao động riêng lẻ” thì tại Hiến
pháp 1992 đã mở rộng quyền sở hữu đối với “tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác
trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác”.
- Hiến pháp 1980 quy định: “Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng,
theo quy định của pháp luật” thì Hiến pháp 1992 mở rộng quyền này và quy định
cụ thể hơn: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra
nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”.
- Hiến pháp 1980 không quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân
thì Hiến pháp 1992 đã quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy
định của pháp luật”…
Tóm lại, chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định
cực kỳ quan trọng của Hiến pháp Việt Nam. Bởi qua đó nó thể hiện vị trí pháp lý
của người công dân trong xã hội dân chủ, thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa
công dân với công dân và sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích
của công dân. Các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngày càng
được hoàn thiện và mở rộng, góp phần giữ vững bản chất Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”

Www.33K13.TK


Nguyễn Ngọc Hải Lâm
Y!: ChuyenTinh_O_Harvard2
Email: nguyenngochailam@gmail.com
¤ø„¸¨°º¤ø„¸ ¸„ø¤º°¨¸„ø¤º°¨
¨°º¤ø„¸I Love ♥¸„ø¤º°¨
¸„ø¤º°¨ ...You...♥``°º¤ø„¸
¸„ø¤º ``°º¤ø„¸ ¤ø„¸¨°º


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://33k13.4rumer.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 1632
Points: 4711
Reputation: 2
Join date: 30/09/2010
Age: 3
Đến từ: Tuy Đức - Đăk Nông

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp   28/6/2011, 16:15

Thông tin chi tiết | Lược đồ

QUỐC HỘI

Số: Không số

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----- o0o -----
Ngày 15 Tháng 04 năm 1992
HIẾN PHÁP

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NĂM 1992



LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tiếp đó, suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự giúp đỡ quý báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.

Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



CHƯƠNG I

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

Điều 1

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Điều 3

Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 5

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

Điều 6

Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều 7

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Điều 8

Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.

Điều 9

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.

Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.

Điều 10

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 11

Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.

Điều 12

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.

Điều 13

Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật.

Điều 14

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

CHƯƠNG II

CHẾ ĐỘ KINH TẾ

Điều 15

Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Điều 16

Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.

Điều 17

Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 18

Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.

Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

Điều 19

Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Điều 20

Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

Điều 21

Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.

Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.

Điều 22

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Điều 23

Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.

Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Điều 24

Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Điều 25

Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.

Điều 26

Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.

Điều 27

Mọi hoạt động kinh tế, xã hội và quản lý Nhà nước phải thực hành chính sách tiết kiệm.

Điều 28

Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.

Điều 29

Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.



CHƯƠNG III

VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

Điều 30

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục.

Điều 31

Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới.

Điều 32

Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của người Việt Nam.

Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.

Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn học, nghệ thuật, khuyến khích các hoạt động văn học, nghệ thuật quần chúng.

Điều 33

Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.

Điều 34

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh.

Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh.

Điều 35

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 36

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.

Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.

Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.

Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Điều 37

Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học, công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Điều 38

Nhà nước đầu tư và khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ưu tiên cho những hướng khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân lành nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến; phát triển nhiều hình thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh.

Điều 39

Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ.

Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số.

Nghiêm cấm tổ chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khoẻ của nhân dân.

Điều 40

Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình.

Điều 41

Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao.

Điều 42

Nhà nước và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế.

Điều 43

Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.



CHƯƠNG IV

BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Điều 44

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định.

Điều 45

Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Điều 46

Nhà nước xây dựng quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu trên cơ sở kết hợp xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điều 47

Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều 48

Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.



CHƯƠNG V

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 49

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

Điều 50

ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.

Điều 51

Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 52

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Điều 53

Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 54

Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 55

Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.

Điều 56

Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.

Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Điều 57

Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 58

Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.

Điều 59

Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.

Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.

Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp.

Điều 60

Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

Điều 61

Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.

Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

Điều 62

Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật. Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật.

Điều 63

Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.

Điều 64

Gia đình là tế bào của xã hội.

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

Điều 65

Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

Điều 66

Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 67

Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.

Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.

Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.

Điều 68

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

Điều 69

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 70

Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

Điều 71

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

Điều 72

Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Điều 73

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

Điều 74

Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.

Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Điều 75

Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 76

Công dân phải trung thành với Tổ quốc.

Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Điều 77

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

Điều 78

Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng.

Điều 79

Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

Điều 80

Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.

Điều 81

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

Điều 82

Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.



CHƯƠNG VI

QUỐC HỘI

Điều 83

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Điều 84

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

4- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước;

6- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

7- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

8- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

10- Quyết định đại xá;

11- Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

12- Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

13- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước;

14- Quyết định việc trưng cầu ý dân.

Điều 85

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm.

Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong. Thể lệ bầu cử và số đại biểu Quốc hội do luật định.

Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình.

Điều 86

Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập.

Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Điều 87

Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội.

Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định.

Điều 88

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 7, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội quy định tại Điều 85 và sửa đổi Hiến pháp quy định tại Điều 147, thì phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua.

Điều 89

Quốc hội bầu Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội và căn cứ vào báo cáo của Uỷ ban mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội.

Điều 90

Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có:

- Chủ tịch Quốc hội;

- Các Phó Chủ tịch Quốc hội;

- Các ủy viên.

Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới.

Điều 91

Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;

2- Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

3- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

4- Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao;

5- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

6- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

7- Chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;

8- Trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

9- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và trình Quốc hội phê chuẩn quyết định đó tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

10- Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

11- Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

12- Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Điều 92

Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.

Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.

Điều 93

Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại.

Điều 94

Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.

Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc.

Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc.

Hội đồng dân tộc còn có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại Điều 95.

Hội đồng dân tộc có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 95

Quốc hội bầu các Uỷ ban của Quốc hội.

Các Uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vị hoạt động của Uỷ ban.

Mỗi Uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 96

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và viên chức Nhà nước hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết. Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó.

Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời những kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.

Điều 97

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.

Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó.

Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.

Điều 98

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.

Điều 99

Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội.

Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định.

Điều 100

Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.

Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.



CHƯƠNG VII

CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 101

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

Điều 102

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.

Điều 103

Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

2- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh;

3- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

4- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

5- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá;

6- Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

7- Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

8- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

9- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

10- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định;

11- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

12- Quyết định đặc xá.

Điều 104

Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên.

Chủ tịch nước đề nghị danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội phê chuẩn. Thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Hội đồng quốc phòng và an ninh động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc.

Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt.

Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 105

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ.

Điều 106

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 107

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ.

Điều 108

Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.

Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

CHƯƠNG VIII

CHÍNH PHỦ

Điều 109

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Điều 110

Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Điều 111

Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

Điều 112

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;

2- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;

3- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

4- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước;

5- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;

6- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

7- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ

Www.33K13.TK


Nguyễn Ngọc Hải Lâm
Y!: ChuyenTinh_O_Harvard2
Email: nguyenngochailam@gmail.com
¤ø„¸¨°º¤ø„¸ ¸„ø¤º°¨¸„ø¤º°¨
¨°º¤ø„¸I Love ♥¸„ø¤º°¨
¸„ø¤º°¨ ...You...♥``°º¤ø„¸
¸„ø¤º ``°º¤ø„¸ ¤ø„¸¨°º


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://33k13.4rumer.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 1632
Points: 4711
Reputation: 2
Join date: 30/09/2010
Age: 3
Đến từ: Tuy Đức - Đăk Nông

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp   28/6/2011, 16:17

Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người

1. Triết lý về nguồn gốc quyền con người
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa bằng lời bất hủ của bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Năm 1957, trong tác phẩm nổi tiếng “Atlas nhún vai” (Atlas Shrugged) của mình, nhà văn nổi tiếng người Mỹ Ayn Rand, kế thừa tư tưởng từ bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, cũng khẳng định quan điểm về quyền con người vốn dĩ thuộc về con người mà không phải do thần thánh hay nhà nước ban cho. “Nguồn gốc của quyền con người không phải là luật thần thánh hay luật Quốc hội ban hành, mà là luật đồng nhất. A là A, và Con Người là Con Người. Quyền là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để có thể tồn tại một cách thích đáng. Ngay khi xuất hiện trên trái đất, mỗi cá nhân đều có quyền sử dụng trí tuệ của mình, làm việc vì các giá trị của mình và giữ lấy sản phẩm do mình tạo ra. Nếu cuộc sống trên trái đất là mục đích thì con người có quyền sống như một thực thể có lý trí: tự nhiên không cho phép con người phi lý trí”1.
Ayn Rand cũng đã nói rằng “Tất cả các chế độ trước đó đều coi con người như phương tiện hiến dâng cho mục đích của những người khác, và coi xã hội là mục đích của chính nó. Nước Mỹ thì coi mỗi con người là mục đích của chính mình, còn xã hội như phương tiện để đi đến một sự đồng tồn tại hòa bình, có trật tự, tự nguyện giữa các cá nhân. Tất cả các chế độ trước đó đều cho rằng đời sống của cá nhân thuộc về xã hội, xã hội có thể loại bỏ cá nhân theo bất kỳ cách nào nó muốn; tự do mà cá nhân được hưởng chỉ là nhờ sự ban ơn, sự cho phép của xã hội, và tự do ấy có thể bị rút lại bất cứ lúc nào. Mỹ cho rằng đời sống của mỗi con người thuộc về chính cá nhân đó, do quyền của cá nhân đó mang lại (nghĩa là: do nguyên tắc đạo đức và do chính bản chất con người của cá nhân mang lại), rằng quyền là tài sản thuộc sở hữu của mỗi cá nhân, xã hội do đó không có quyền gì, và mục đích đạo đức duy nhất của nhà nước là bảo vệ các quyền cá nhân… Tuyên ngôn nhân quyền được viết ra không phải là để bảo vệ người ta trước các hành động của tư nhân, mà là để chống các hành động của chính phủ”2.
Cũng xuất phát từ triết lý đó, Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người 1948 đã long trọng tuyên bố: “Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm, cũng như quyền lợi. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm. Sự đối xử giữa con người với nhau phải được trên tinh thần bác ái. Điều 2: Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do công bố trong Bản Tuyên ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền”.

2. Quyền con người và hiến pháp
Về mối quan hệ giữa nhân quyền và hiến pháp, GS. Hoàng Văn Hảo viết: “Chính vai trò giá trị của quyền con người, quyền công dân mà trong tư duy chính trị của nhân loại, vấn đề quyền con người, quyền công dân trở thành một nội dung chính của lịch sử lập hiến. Luật về các quyền của Anh sau Cách mạng 1689, Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, hiến pháp của tất cả các nước, dù ở chế độ xã hội nào (tư bản, xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển) đều có chế định quyền con người, quyền công dân. Đó là nội dung cơ bản nhất của mỗi hiến pháp, nội dung quan trọng đến mức nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thì cũng không thể có bản thân hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu trong hiến pháp của nhiều nước”3.
Trên thế giới có ba cách quy định về quyền con người trong hiến pháp:
Cách thứ nhất là quyền con người được quy định trong một văn bản riêng gọi là bản Tuyên ngôn nhân quyền của các nhà nước tư bản phát triển, như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 của Anh và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789. Mặc dù các tuyên ngôn này không được nằm trong nội dung chính của bản văn hiến pháp, nhưng chúng đều được thừa nhận là một phần của nội dung hiến pháp. Tuyên ngôn nhân quyền của Anh là một nguồn quan trọng của hiến pháp bất thành văn của Anh quốc. Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1958 hiện hành của Pháp trịnh trọng tuyên bố: “Nhân dân Pháp trung thành với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789”. Điều đó có nghĩa bản tuyên ngôn này như là một nội dung chính của hiến pháp.
Cách thứ hai, nhân quyền được quy định thành chương, điều trong nội dung của hiến pháp. Ví dụ: Chương 5 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương 2 của Hiến pháp Trung Quốc về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Chương 2 của Hiến pháp Nga về các quyền và tự do của con người và công dân.
Cách thứ ba, nhân quyền không được quy định thành bản Tuyên ngôn riêng rẽ, mà cũng không nằm trong nội dung chính của hiến pháp, mà nằm trong bản phụ trương của hiến pháp, như 10 Tu chính án của Hiến pháp Mỹ.
Dù quy định theo cách nào, các quốc gia đều coi quyền con người là nội dung quan trọng của hiến pháp.
3. Quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992: một số định hướng cải cách mang tính nguyên tắc
3.1. Cải cách việc ghi nhận các quyền con người cơ bản trong Hiến pháp Việt Nam
Cải cách cách quy định nhân quyền và quyền con trong Hiến pháp Việt Nam đang là một trong những nhiệm vụ cấp bách chuẩn bị cho công cuộc sửa đổi Hiến pháp sắp tới. Muốn vậy đòi hỏi phải rà soát lại các cách thức quy định hiện hành về quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp.
Cũng như các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp Việt Nam hiện hành dành riêng Chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Và cũng như nhiều nước trên thế giới, quyền công dân Việt Nam xuất phát từ quyền con người:
“Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50).
Quy định này của Hiến pháp thể chế hóa quan điểm của Đảng “quyền công dân, quyền con người và tự do cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật”4.
Nếu như các quyền con người thể hiện ở quyền công dân thì quyền công dân phải là những quyền vốn có của con người mà Nhà nước phải thừa nhận vì quyền con người là những quyền tự nhiên vốn có của con người. Các quy định của Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam về quyền con người có thể “gây” cảm giác rằng quyền con người không phải là quyền vốn có do Tạo hoá ban cho con người với tư cách là con người mà do Nhà nước ban cho người dân. Quy định về quyền công dân thì phải đặt công dân ở vị trí chủ thể, nhưng nhiều quy định về dân quyền trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành đa phần đặt Nhà nước ở vị trí chủ thể, còn công dân như là đối tượng được ban cho quyền chứ không phải được thừa nhận quyền. Chẳng hạn, Điều 60 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến kỹ thuật...” . Điều này có nghĩa Nhà nước thừa nhận công dân có quyền nghiên cứu khoa học. Nếu Nhà nước không công nhận thì người dân không có quyền nghiên cứu khoa học?
Tổng quát hơn, Điều 51 Hiến pháp năm 1992 có nêu: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Cách quy định này hoàn toàn khác với Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 của nước ta do Hồ Chủ tịch đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Đó là những quyền thuộc về tạo hóa ban cho con người, không ai có thể vi phạm.
Trong 33 điều của Chương V về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, “Nhà nước” với tư cách là chủ thể xuất hiện khá nhiều. Những công thức thường được áp dụng là: “Nhà nước bảo đảm...”; “Nhà nước có kế hoạch...”; “Nhà nước ban hành...”; “Nhà nước quy định”; “Nhà nước giao...”; “Nhà nước có chính sách...”; “Nhà nước tạo điều kiện...”; “Nhà nước bảo hộ...”. Theo những công thức như vậy, Nhà nước như là chủ thể “sáng tạo” ra quyền con người chứ không phải là chủ thể “tôn trọng” quyền con người. Chúng ta cần hiểu rằng, Nhà nước không chỉ có nghĩa vụ bảo đảm, thực hiện, thúc đẩy quyền con người mà đầu tiên, Nhà nước phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người. Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi các Nhà nước phải kiềm chế không can thiệp vào việc thụ hưởng các quyền của cá nhân5.
Việc quy định quyền con người trong hiến pháp là để xác lập một ranh giới cho sự can thiệp của công quyền, tạo lập một khu vực cấm đối với công quyền. Nến như Nhà nước được đặt ở vị trí chủ thể trong các quy định về dân quyền theo Hiến pháp hiện hành thì công dân lại được đặt ở vị trí chủ thể trong Hiến pháp năm 1946, ví dụ: “tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền...”; “những quốc dân thiểu số được giúp đỡ...”; “Đàn bà ngang quyền với đàn ông...”; “Công dân Việt Nam có quyền...”.
Muốn cho quyền hiến định của công dân có thể thực hiện được trên thực tế và được công dân sử dụng để bảo vệ mình thì việc quy định về dân quyền phải theo nguyên tắc xác định dân quyền là khu vực cấm đối với công quyền, công quyền phải thừa nhận dân quyền chứ không phải ban cho công dân quyền cơ bản, ví dụ như: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam” (Điều 11 Hiến pháp Việt Nam năm 1946). Nhìn chung, các quy định của Hiến pháp năm 1992 của nước ta về dân quyền thì phần quy định về quyền tự do cá nhân khả thi vì được ấn định theo nguyên tắc xác định các quyền này như là khu vực cấm đối với công quyền. Ví dụ: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” (Điều 71); “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép” (Điều 73)...
Cách thể hiện quyền công dân và quyền con người của Hiến pháp Mỹ mang tư duy hoàn toàn khác Hiến pháp hiện hành của nước ta. Quyền con người không do nhà nước ban phát, mà luôn luôn là tồn tại mặc nhiên. Nhà nước phải có nghĩa vụ ngăn chặn sự vi phạm từ bất kể chủ thể nào. Ví dụ, về quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, Hiến pháp Mỹ quy định tại Tu chính án thứ nhất như sau: “Quốc hội sẽ không được ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo, hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền của dân chúng được hội họp ôn hoà và kiến nghị lên Chính phủ các điều thỉnh cầu, để bày tỏ những nỗi bất bình của họ”. Tu chính án này không nhằm mục đích ban cho người dân quyền tự do tín ngưỡng hay quyền tự do báo chí, mà chỉ ngăn cấm việc Quốc hội thông qua những đạo luật can thiệp vào quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng. Cá nhân thì được tự do, chính quyền thì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
Quyền bất khả xâm phạm thân thể và tài sản của họ được quy định tại Tu chính án thứ 3, 4: “Quyền của các công dân được bảo đảm về bản thân, nhà cửa, giấy tờ, và tài sản, chống mọi sự khám xét và tịch thu vô lý, sẽ không bị vi phạm, và không một trát khám nhà nào sẽ được cấp nếu không có lý do chính đáng, không được lời tuyên thệ hoặc xác nhận làm sáng rõ, và nếu trát đó không mô tả rõ ràng nơi cần khám xét và người và vật bị bắt giữ...”. “Không ai có thể buộc phải chịu trách nhiệm về một trọng tội, hay một tội xấu xa khác, nếu không có một quyết định cáo trạng do một bồi thẩm đoàn đưa ra, trừ trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân, hoặc trong lực lượng dân quân dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến, hoặc trong tình trạng báo động. Không một ai có thể bị kết án hai lần về cùng một tội. Không một ai có thể bị ép buộc làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không có một quá trình xét xử theo đúng luật. Không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng”.
3.2. Cải cách việc quy định nguyên tắc tôn trọng quyền con người
Hiến pháp năm 1980 của nước ta mới quy định nguyên tắc tôn trọng quyền con người tại Điều 54: “Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, kết hợp hài hoà những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân, bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người.
Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội”.
Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này một cách cô đọng hơn tại điều 50, 51 như đã nêu. Nguyên tắc tôn trọng quyền con người rất quan trọng, nó thể hiện thái độ, chính sách của nhà nước về quyền con người. Nhưng rất đáng tiếc, như đã phân tích ở phần trên, cách ghi nhận của hai điều này mang tư duy “ban phát” quyền con người - đi ngược với triết lý về sự tồn tại của quyền con người.
Trong khi đó, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã quy định theo một cách khác, khẳng định tại Điều 2: “1. Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác”. Quy định ghi nhận nguyên tắc các quốc gia phải tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người cho tất cả mọi người không có sự phân biệt.
Đối chiếu với Hiến pháp của một số nước khác, chúng ta thấy sự khác biệt rất lớn so với Việt Nam. Ví dụ, Hiến pháp Mỹ: Điều bổ sung sửa đổi thứ 9 Quyền của nhân dân có nêu: “Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân”. Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 Quyền công dân đã quy định tại Khoản 1 rằng: “Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ. Cũng không một bang nào có thể tước đoạt sinh mệnh, tự do hoặc tài sản của một cá nhân mà không theo một quy trình do luật định”.
Còn Điều 55 Hiến pháp Liên bang Nga quy định: “1. Việc liệt kê các quyền và tự do cơ bản trong Hiến pháp Liên bang Nga không có nghĩa vụ là phủ nhận hoặc xem nhẹ các quyền và tự do khác của con người và công dân đã được thừa nhận rộng rãi.
2. Ở Liên bang Nga không được ban hành những đạo luật tước bỏ hoặc xem nhẹ các quyền và tự do của con người và công dân”.
Như vậy, hai Hiến pháp trên đã khẳng định những nguyên tắc rất tiến bộ: việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân và nhà nước không được ban hành những đạo luật tước bỏ quyền con người một cách bất hợp pháp.
Từ những sự phân tích và so sánh trên, chúng tôi cho rằng, nguyên tắc tôn trọng quyền con người trong Hiến pháp năm 1992 của nước ta cần thay đổi căn bản nhằm thể hiện tư duy đúng đắn hơn.
3.3. Bổ sung nguyên tắc giới hạn quyền con người
Trong một số hoàn cảnh nhất định, để đảm bảo lợi ích chung, Nhà nước có thể hạn chế quyền con người ở mức độ chấp nhận được. Tuy nhiên, nhằm phòng tránh sự lạm dụng quyền lực của Nhà nước, Hiến pháp phải quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người.
Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948 đề cập đến vấn đề này như sau: “Điều 29: (1) Mọi người đều có nhiệm vụ đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới thực hiện được việc phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
(2) Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định - và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
(3) Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên hiệp quốc.
Điều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên ngôn này cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền viện dẫn bất cứ lý do gì để có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên ngôn này”.
Như vậy, Tuyên ngôn đã khẳng định một nguyên tắc rất quan trọng: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định - và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 tại Điều 4 cũng nêu: “1. Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này có thể ban hành một số biện pháp đình chỉ thi hành các nghiã vụ của quốc gia ấn định trong Công ước này. Tuy nhiên, những biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết vì nhu cầu của tình thế, và không vi phạm các nghĩa vụ của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế, và cũng không được dùng để kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội”.
Và cuối cùng, Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 cũng quy định: “Các quốc gia hội viên ký kết Công ước này nhìn nhận rằng, về việc hành xử những quyền ghi trong Công ước, họ chỉ có thể ấn định các giới hạn luật định phù hợp với bản chất của những quyền này và chỉ nhằm mục đích phát huy sự an lạc chung trong một xã hội dân chủ”.
Hiến pháp Trung Quốc cũng khẳng định nguyên tắc này. Tuy nhiên, việc quy định chưa đầy đủ hàm ý như các điều ước quốc tế nêu trên: “Điều 51. Hạn chế quyền tự do và quyền lợi công dân
Công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khi thực hiện quyền tự do và quyền lợi của mình không được xâm hại đến tự do và quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tập thể và công dân khác”.
Riêng Hiến pháp Nga đã ghi nhận khá tốt nguyên tắc này:
“Điều 17
(…) 3. Việc thực hiện các quyền và tự do của con người và công dân không được xâm phạm đến quyền và tự do của người khác.
Điều 55
(…) 3. Các quyền và tự do của con người và công dân có thể bị giới hạn bởi pháp luật liên bang chỉ trong mức độ cần thiết đủ để bảo vệ nền tảng chế độ hiến pháp, đạo đức, sức khỏe, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.
Điều 56
1. Trong điều kiện tình trạng khẩn cấp, để bảo đảm an toàn cho công dân và bảo vệ chế độ hiến pháp, theo một đạo luật hiến pháp liên bang, có thể thiết lập những giới hạn nhất định đối với các quyền và tự do với điều kiện phải chỉ rõ phạm vi và thời hạn của những giới hạn đó.
2. Tình trạng khẩn cấp có thể được ban bố trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga hoặc một phần lãnh thổ nhất định khi xuất hiện bối cảnh và theo trình tự được quy định trong đạo luật hiến pháp liên bang.
3. Không được hạn chế các quyền và tự do được quy định tại các điều 20, 21, 23 (khoản 1), 24, 28, 34 (khoản 1), 46-54 của Hiến pháp liên bang Nga”.
Khác với các bộ luật quốc tế về quyền con người và Hiến pháp một số quốc gia nêu trên, Hiến pháp Việt Nam không có quy định về việc giới hạn quyền con người một cách trực tiếp. Chỉ có một số quy định hàm ý rằng việc thực hiện các quyền và tự do của con người và công dân không được xâm phạm đến quyền và tự do của người khác, như: “… Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70). “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh… Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” (Điều 74).
Hiến pháp Việt Nam sửa đổi cần quy định rõ nguyên tắc giới hạn quyền con người để tạo một khuôn khổ hiến định phòng tránh những lạm dụng quyền con người để xâm phạm quyền con người của các chủ thể khác.

Theo Tạp chí nghiên cứu lập pháp.

Www.33K13.TK


Nguyễn Ngọc Hải Lâm
Y!: ChuyenTinh_O_Harvard2
Email: nguyenngochailam@gmail.com
¤ø„¸¨°º¤ø„¸ ¸„ø¤º°¨¸„ø¤º°¨
¨°º¤ø„¸I Love ♥¸„ø¤º°¨
¸„ø¤º°¨ ...You...♥``°º¤ø„¸
¸„ø¤º ``°º¤ø„¸ ¤ø„¸¨°º


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://33k13.4rumer.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 1632
Points: 4711
Reputation: 2
Join date: 30/09/2010
Age: 3
Đến từ: Tuy Đức - Đăk Nông

Bài gửiTiêu đề: Re: Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp   28/6/2011, 16:18

KHPL - 2006.02 - Từ chế định chế độ chính trị bàn về cơ cấu của hiến pháp
1. Những bất cập của Chương Chế độ chính trị theo Hiến pháp hiện hành

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 hiện nay được chia thành 12 chương: Chương I “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - chế độ chính trị”; Chương II “Chế độ kinh tế”;Chương III“Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ”; Chương IV “Bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”; Chương V “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”; Chương VI “Quốc hội”; Chương VII “Chủ tịch nước”; Chương VIII “Chính phủ”; Chương IX “Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân”; Chương X “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”; Chương XI “Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh”; Chương XII “Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp”.

Chương I “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - chế độ chính trị” có 14 điều. Về mặt hình thức thể hiện, phải đến Hiến pháp 1980 thuật ngữ “chế độ chính trị” mới được sử dụng là tiêu đề của một chương trong Hiến pháp (Chương I) và sau đó tiếp tục được qui định trong Hiến pháp 1992. Nếu xem xét về nội dung của chế định này trong hai bản Hiến pháp 1980 và 1992 thì đó là sự kế thừa từ Chương “Chính thể” của Hiến pháp 1946, đặc biệt là từ Chương “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” của Hiến pháp 1980. Tuy nhiên, nội hàm của “chế độ chính trị” được sử dụng trong Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 rộng hơn nội hàm của thuật ngữ “nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” của Hiến pháp năm 1959 và đặc biệt là của thuật ngữ “chính thể”của Hiến pháp năm 1946.

Để phân tích các nội dung, ý nghĩa của chế độ chính trị theo qui định của Hiến pháp hiện hành, hầu hết các tác giả đều đi từ phân tích thuật ngữ chính tri, chế độ chính trị từ các cách hiểu khác nhau cho đến cách tiếp cận theo qui định của Hiến pháp (theo góc độ pháp luật thực định).

Dưới góc độ thuật ngữ, có tác giả cho rằng khái niệm chế độ chính trị có nội dung rất rộng và phức tạp, bao gồm nhiều nội dung quan trọng[1], có tác giả cho rằng chế độ chính trị là một bộ phận của chế độ xã hội, là một trong những yếu tố cấu thành của chế độ xã hội và chế độ chính trị thực chất là chế độ thực hiện quyền lực nhà nước[2]. Tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc cho rằng chế độ chính trị là hệ thống các nguyên tắc, phương thức, biện pháp, thủ đoạn thực hiện quyền lực nhà nước, và theo ông, có hai loại chế độ chính trị dân chủ và phản dân chủ với những cấp độ khác nhau [3]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “chế độ chính trị” được hiểu là nội dung phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị quốc gia mà trung tâm là nhà nước; chế độ chính trị được cấu thành bởi sự kết hợp các yếu tố: chính trị, kinh tế - xã hội, tư tưởng văn hóa, pháp luật. Chế độ chính trị được hiểu rõ nét nhất trong mô hình tổ chức nhà nước; trong hiến pháp của mỗi nhà nước qui định về nguồn gốc và tính chất của quyền lực, sự phân bổ và tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực, về những quan hệ của nhà nước với công dân, các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, giữa các dân tộc trong nước và thế giới[4].

Có thể nhận thấy rằng, nếu phân tích chế độ chính trị theo hướng thuật ngữ và chiếu theo Hiến pháp thực định thì có nhiều nội dung chưa thống nhất. Quả thật, chế độ chính trị hiểu theo cách tiếp cận về thuật ngữ nói trên của giới khoa học pháp lý nội dung của nó rất rộng, bao trùm chế định quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân và cả các chế định về các cơ quan Nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc cũng cho rằng “cần có sự phân biệt nhất định khái niệm “chế độ chính trị” được dùng phổ biến trong môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật được hiểu là hệ thống các phương thức, biện pháp, thủ đoạn tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước dân chủ hoặc phản dân chủ và “chế độ chính trị” trong ngành luật hiến pháp như qui định của hiến pháp nhiều nước...”[5].

Căn cứ vào ý nghĩa của các qui định của các điều (14 điều) trong Chương Chế độ chính trị của Hiến pháp hiện hành, có tác giả cho rằng đó là những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung làm nền tảng cho mọi chương sau này[6] (loại ý kiến thứ nhất), có tác giả cho rằng chế định về chế độ chính trị đã thể hiện một cách đầy đủ và toàn diện các qui định và các nguyên tắc chính trị cơ bản, tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thiết lập, củng cố và bảo vệ chế độ chính trị tốt đẹp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các qui định của chế độ chính trị là cơ sở, nguyên tắc, nền tảng chính trị của các chương về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân[7] (loại ý kiến thứ hai).

Chúng tôi cho rằng, hiểu như loại ý kiến thứ nhất nói trên chưa thật chính xác, bởi lẽ theo Hiến pháp thực định của nước ta hiện nay, Chương II “Chế độ kinh tế” của Hiến pháp mang tính độc lập với Chương Chế độ chính trị. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì chế độ chính trị của mọi xã hội có giai cấp, suy cho cùng, được quyết định bởi chế độ kinh tế và chế độ giai cấp xã hội (và đến lượt mình, chế độ chính trị tác động trở lại đến toàn bộ cơ cấu các quan hệ xã hội). Mặt khác, sự chi phối, tác động của chế định chế độ chính trị tới các Chương III (Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ), Chương IV (Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ) cũng mờ nhạt hơn rất nhiều so với sự tác động của nó tới các chương khác như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Loại ý kiến thứ hai có vẻ hợp lý hơn, nhưng nếu nghiên cứu thấu đáo các qui định của Hiến pháp hiện hành, chúng tôi cho rằng các qui định của Chương Chế độ chính trị mặc dù đã có tác dụng mang tính chi phối, định hướng đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nhưng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân cũng như trong điều kiện hội nhập quốc tế thì các qui định hiện hành chưa mang tính “bao trùm” (nhất là trong mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, chưa “đủ sức” phác họa bản chất của chế độ chính trị (nhất là về “mô hình” của bộ máy nhà nước)...

Vả lại, nếu hiểu chế độ chính trị là một bộ phận và là yếu tố cấu thành của chế độ xã hội (cùng với chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật)[8] cũng không phù hợp với cơ cấu của Hiến pháp thực định, bởi lẽ nếu vậy thì Hiến pháp phải qui định về chế độ xã hội trong đó bao gồm chế độ kinh tế, chế độ chính trị, chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật. Trên thực tế, Hiến pháp không qui định chế độ xã hội, mà chỉ qui định chế độ chính trị và chế độ kinh tế và khi qui định văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật (hoặc văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ) mà không có từ chế độ ở trước (nhưchế độ chính trị và chế độ kinh tế). Mặt khác, trong lịch sử lập hiến ở nước ta, Hiến pháp 1959 đã dành cả Chương II qui định về “chế độ kinh tế và xã hội”. Như vậy, rõ ràng chế độ xã hội cũng không được hiểu theo cách nó được cấu thành từ chế độ kinh tế, chế độ chính trị, chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật... của nhà nước

Qua việc phân tích ở trên, chúng ta có thể rút ra nhận xét rằng,chế độ chính trị trong Hiến pháp hiện hành không thiết kế theo tiêu chí phổ biến của khoa học pháp lý, cũng không phải là chế độ chính trị tồn tại cùng với chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ hợp thành chế độ xã hội của một nước và cũng không phải là những nguyên tắc chi phối tất cả các chế định còn lại của Hiến pháp. Như vậy, để hiểu chế độ chính trị với tính chất là một chương của Hiến pháp nước ta hiện nay, chúng tôi cho rằng, có lẽ không có cách nào hợp lý và chính xác hơn là tiếp cận theo phương pháp luật thực định. Nói cách khác, nội dung Chương I “Chế độ chính trị” của Hiến pháp không hoàn toàn hiểu theo tiêu chí mà giới khoa học pháp lý bấy lâu nay đã định nghĩa và khái quát hóa cho nó. Hiến pháp 1992 của nước ta qui định Chương Chế độ chính trị gồm 14 điều và hiểu một cách đơn giản (và chính xác nhất), nội dung của “chế độ chính trị” là những vấn đề qui định trong 14 điều của chương này. Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách này thì vấn đề trở nên máy móc, không mang tính khoa học và không cho thấy ý nghĩa to lớn của Chương Chế độ chính trị đối với các chương khác của Hiến pháp và đối với cả hệ thống pháp luật.

Ngoài sự bất cập nói trên, nếu nghiên cứu các chương khác của Hiến pháp hiện hành, nhất là Chương III (Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ), Chương IV (Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ), chúng tôi có cảm nhận rằng, vì nhà lập hiến đã qui định Chương Chế độ chính trị (và Chế độ kinh tế), nên nhà lập hiến cố gắng thiết kế thêm chương về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ (theo hướng này đúng ra phải có chương văn hóa, giáo dục và chương khoa học, công nghệ riêng). Có lẽ vì thế, nên nhiều qui định trong chương này dường như không “tương xứng” với các chương khác của Hiến pháp, không đúng “tầm” của Hiến pháp.

2. Phương hướng khắc phục

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và trong xu thế hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật của chúng ta đã, đang thay đổi và trong thời gian tới sẽ thay đổi rất mạnh mẽ. Với tính chất là đạo luật cơ bản của Nhà nước, Hiến pháp cần phát huy vai trò là “đạo luật mẹ” đối với cả hệ thống pháp luật. Để làm được điều này, không những cần chú ý đến từng qui định của Hiến pháp về nội dung, mà những qui định đó phải nằm trong mối quan hệ tác động qua lại, cũng như phải đặt đúng vị trí của nó. Muốn vậy, trước hết Hiến pháp phải có cơ cấu hợp lý, phải khắc phục được sự bất cập như đã phân tích ở trên. Do đó, chúng tôi cho rằng một trong những việc chúng ta nên làm là nghiên cứu và cơ cấu lại Hiến pháp.

Theo chúng tôi, có thể có hai phương án để cơ cấu lại Hiến pháp.

Phương án thứ nhất (mang tính chất tạm thời trong giai đoạn hiện nay), có thể thực hiện theo hướng của loại ý kiến thứ hai như đã nói ở trên. Theo phương án này, có thể vẫn để số chương như Hiến pháp hiện hành, nhưng nghiên cứu và sắp xếp lại một số qui định trong các chương với nhau, nhất là một số qui định trong Chương Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương V), cũng như các chương về các cơ quan nhà nước (từ Chương VI đến Chương X), cần chỉnh sửa và chuyển sang qui định tại Chương Chế độ chính trị. Mục đích của việc phân định lại này (và có thể bổ sung một số qui định trong Chương Chế độ chính trị) là nhằm làm cho Chương Chế độ chính trị thực sự bao gồm những nguyên tắc chính trị cơ bản chi phối các Chương Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các chương về các cơ quan nhà nước, đặt đúng vị trí của một số qui định, nhằm làm tăng ý nghĩa cũng như sự tác động của nó đối với các chương khác của Hiến pháp và đối với hệ thống pháp luật.

Với tinh thần và ý nghĩa như vậy, có thể điều chỉnh cụ thể như sau:

- Điều 50 của Hiến pháp (về quyền con người) nên qui định vào Chương Chế độ chính trị và cần qui định thêm trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước tôn trọng, thực thi các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền con người.

- Điều 6 Hiến pháp hiện hành mới chỉ qui định về dân chủ đại diện và chưa có qui định về dân chủ trực tiếp. Đây là một điều đáng tiếc. Như vậy, sẽ hợp lý hơn nếu qui định về trưng cầu ý dân (Điều 53), quyền bầu cử (Điều 54) sẽ được qui định trong một điều luật về phương thức thực hiện quyền lực trực tiếp của nhân dân (cùng với quyền nhân dân trực tiếp bãi nhiệm các đại biểu dân cử khi họ không còn được sự tín nhiệm của nhân dân).

- Điều 72 (quyền suy đoán vô tội), cũng cần chuyển từ Chương V sang Chương I.

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 70) cũng nên theo hướng như trên và bổ sung tín ngưỡng, tôn giáo tách rời với Nhà nước.

- Bổ sung quyền tự do truyền thông bao gồm tự do báo chí, truyền thanh, truyền hình và các công cụ, phương tiện truyền thông khác và qui định trong Chương Chế độ chính trị.

Khi cơ cấu lại như trên thì sự tác động của những qui định đó sẽ lớn hơn và ý nghĩa của nó cũng đa diện hơn: đó không chỉ đơn thuần là những quyền của công dân mà đó còn là trách nhiệm của Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong việc thực thi và bảo vệ; đó không chỉ là mục đích nội tại của Nhà nước và xã hội, mà còn cho thấy sự chủ động của chúng ta trong việc “nội luật hóa” các qui định mang tính nguyên tắc về quyền con người trong các công ước quốc tế. Mặt khác, làm như vậy còn chứng tỏ chúng ta sẵn sàng chấp nhận những luật chơi chung trong xu thế hội nhập quốc tế.

Sẽ là khiếm khuyết nếu chương chế độ chính trị không qui định về “phương hướng và nội dung” hoạt động của Nhà nước, trước hết là các cơ quan chủ chốt trong bộ máy nhà nước; bởi vì, cái cơ bản nhất trong chính trị là tổ chức chính quyền Nhà nước, cái đầu tiên trong lĩnh vực chính trị đó là tham gia công việc Nhà nước, qui định hình thức, nhiệm vụ, phương hướng và nội dung hoạt động của Nhà nước (theo Lênin). Vì vậy, chúng tôi cho rằng tiếp theo qui định về nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong Điều 2, nên qui định khái quát về vị trí pháp lý của các cơ quan nhà nước chủ chốt ở trung ương để thấy rõ về “mô hình” của bộ máy nhà nước (quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp). Cụ thể như sau: bổ sung qui định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ” ; “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được thực hành nghiêm chỉnh và thống nhất” vào đoạn cuối Điều 2 của Hiến pháp. Nếu làm như vậy thì trong các chương về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân (có thể) không cần lặp lại các qui định này.

Phương án thứ hai, chúng tôi cho rằng về lâu dài, nên thiết kế lại căn bản cơ cấu của Hiến pháp. Về tổng thể, Hiến pháp nên có Lời nói đầu và ba phần lớn: Các nguyên tắc cơ bản; Quyền con người, quyền công dân (hoặc quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) và Bộ máy nhà nước [9]. Mỗi phần (nhất là phần Bộ máy Nhà nước có thể được chia thành các chương). Ngoài ra, có thể có thêm phần về sửa đổi Hiến pháp, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và Thủ đô.

Khi đã cơ cấu theo hướng trên, Chương I của Hiến pháp có thể có tiêu đề “Những nguyên tắc nền tảng” và những qui định trong chương này là cơ sở, nền tảng, mang tính chất chi phối toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Với cách đặt vấn đề như vậy, chương này về thực chất là sự kế thừa từ các qui định trong Chương Chế độ chính trị hiện nay, nhưng có sự cơ cấu lại theo định hướng như đã phân tích ở phương án một (đã đề cập ở trên). Ngoài ra, chương này còn bao gồm những qui định mang tính nguyên tắc, nền tảng đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình...[10].

Theo hướng như vậy, Hiến pháp sẽ không còn các Chương về chế độ kinh tế; văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tóm lại,chúng tôi cho rằng trong thời gian tới, nếu chúng ta sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thì cùng với việc sửa đổi về nội dung,sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta cơ cấu lại Hiến pháp theo hướng gồm Lời nói đầu và ba phần lớn: Phần 1- Những nguyên tắc nền tảng; Phần 2- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; Phần 3- Bộ máy nhà nước (trong phần này có thể chia thành các chương). Ngoài ra, có phần qui định về việc sửa đổi Hiến pháp, về Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy và Thủ đô.

[1] Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2003, tr. 123

Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Đại học Huế, Huế 1997, tr. 109

[2] Giáo trình Luật Nhà nước Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội 1994. tr. 104.

[3] Danh mục từ đưa ra hội thảo về Từ điển pháp luật tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2005.

[4] Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 1, Hà Nội 1995, tr. 432.

[5] Danh mục...; Tlđd

[6] Xem: Thể chế chính trị- Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn - Nxb Lý luận chính trị, tr. 267.

[7] Trường Đại học Luật Hà Nội, Gtđd, tr. 124. Đại học Huế, Gtđd, tr. 109.

[8] Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, GTđd, tr. 104. Đại học Huế, Gtđd, tr. 109.

[9] Có thể tham khảo cơ cấu Hiến pháp 1982 của Trung Quốc (sửa đổi, bổ sung 1988, 1993, 1999 và 2004) gồm có 4 chương (ngoài Lời nói đầu): Chương 1 - Những nguyên tắc chung, Chương 2 - Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Chương 3 - Cấu trúc của Nhà nước, Chương 4 - Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy và Thủ đô. Cũng có thể tham khảo Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Nga 1993 gồm có Lời nói đầu và hai phần là phần chính và Phần kết luận và Điều khoản chuyển tiếp), trong phần chính có 9 chương (Chương 1: Những nguyên tắc nền tảng của Hiến pháp; Chương 2: Quyền và tự do của con người và công dân; Chương 3: Liên bang Nga; Chương 4: Tổng thống Liên bang; Chương 5: Quốc hội Liên bang; Chương 6: Chính phủ; Chương 7: Tòa án; Chương 8; Tự quản địa phương; Chương 9: Sửa đổi và bổ sung Hiến pháp). Nếu gộp các chương của bộ máy nhà nước thành một phần thì chín chương như trên thực chất cũng gồm ba phần lớn là các nguyên tắc của Hiến pháp, quyền và tự do của con người và công dân và phần về bộ máy nhà nước.

[10] Chúng tôi cho rằng nên tham khảo Hiến pháp Trung Quốc như đã nói ở trên.

-----------------------------

VŨ VĂN NHIÊM*
* ThS. Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Www.33K13.TK


Nguyễn Ngọc Hải Lâm
Y!: ChuyenTinh_O_Harvard2
Email: nguyenngochailam@gmail.com
¤ø„¸¨°º¤ø„¸ ¸„ø¤º°¨¸„ø¤º°¨
¨°º¤ø„¸I Love ♥¸„ø¤º°¨
¸„ø¤º°¨ ...You...♥``°º¤ø„¸
¸„ø¤º ``°º¤ø„¸ ¤ø„¸¨°º


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://33k13.4rumer.com
 

Một số câu hỏi ôn tập môn Luật Hiến pháp

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 Similar topics

-
» Luật Post ảnh box nì.
» PHƯƠNG PHÁP SÁNG TÁC TIỂU PHẨM
» Giáo dục một hiện tượng của xã hội
» [Hoàng Quốc Việt ] 300k Quỳnh Chi Đỉnh Cao Service MS 531 lần đầu xuất hiện

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
-‘๑’- Diễn Đàn 33K13 - ĐNO -‘๑’- :: ๑۩۞۩๑ Học Tập ๑۩۞۩๑ :: -‘๑’- Môn học Kỳ 1 -‘๑’- :: -‘๑’- Luật Hiến Pháp -‘๑’--